Chỉ định phẫu thuật xuất huyết não

Phẫu thuật có thể làm giảm thấp tỉ lệ tái chảy máu, phù não hoặc hoại tử do hiệu ứng choán chỗ của máu tụ, nhưng rất khó để cải thiện triệu chứng thần kinh.

Quyết đinh phẫu thuật phải tùy thuộc cá nhân dựa vào tình trạng thần kinh của bệnh nhân, kích thước và vị trí máu tụ, tuổi bệnh nhân, và ước muốn của gia đình và bệnh nhân liên quan đến việc chấp nhận mọi tình huống có thể xảy ra.

BACSINAMCHUNG xin giới thiệu Guilines xem xét việc điều trị tụ máu trong não giữa mổ hoặc không mổ.

1.KHÔNG PHẪU THUẬT: Những yếu tố sau đây có thể xem xét điều trị nội khoa

a.Thương tổn có triệu chứng tối thiểu: chẳng hạn bệnh nhân tỉnh có liệt tế nhị nửa người (đặc biệt bệnh nhân có GCS>10)

b.Các tình huống ít cơ hội có hậu quả tốt

c.điểm ICH cao, mà gối lên các điều sau đây

d.xuất huyết nhiều có phá hủy tế bào thần kinh đáng kể

e.xuất huyết nhiều ở bán cầu trội

f.tình trạng thần kinh xấu: chẳng hạn hôn mê tư thế gồng (nghĩa là GCS =< 5), mất chức năng thân não (đồng tử cố định, gồng…)

g.tuổi > 75:không tốt với phẫu thuật này

h.bệnh đông máu nặng hoặc các rối loạn đáng kể dưới đay: trong sự kiện tụt não, giải ép nhanh chóng nên được xem xét dù có nguy cơ

i.xuất huyết hạch nền (nhân bèo) hoặc xuất huyết đồi thị; phẫu thuật không tốt hơn xử trí nội khoa, và cả hai ít được thử

2.PHẪU THUẬT: Nếu bệnh nhân có các yếu tố sau đây việc điều trị phẫu thuật nên được cân nhắc

xuat-huyet-nao-tran-trai

a.các thương tổn có hiệu ứng choáng chỗ đáng kể, phù, lệch đường giữa trên hình ảnh (lấy bỏ máu tụ do tiềm ẩn khả năng tụt não)

b.các thương tổn mà các triệu chứng (chẳng hạn liệt nửa người/hai chi dưới, loạn vận ngôn, hoặc đôi khi là lú lẫn hoặc kích thích…) dường như do tăng áp lực nội sọ hoặc do hiệu ứng choáng chỗ từ máu tụ hoặc phù xung quanh. Các triệu chứng có thể góp phần trực tiếp vào thương tổn não do xuất huyết thì không chắc chắn hồi phục sau khi phẫu thuật lấy bỏ khối máu tụ.

c.thể tích: phẫu thuật đối với các máu tụ có thể tích vừa (nghĩa là ~10-30 cc  có thể thích hợp hơn với;

* máu đông nhỏ(<10 cc); hiệu ứng choáng chỗ thường không đáng kể

* máu đông lớn

i) > 30 cc: để lại hậu quả xấu (chỉ 1 trong 171 bệnh nhân có chức năng độc lập vào ngày thứ 30)

ii) xuất huyết lớn:

> 60 cc với GCS =< 8: 91% tử vong ngày thứ 30

> 85 cc (thể tích một bán cầu với đường kính 5,5 cm): không bệnh nhân nào sống sót

d.tăng áp lực nội sọ kéo dài mặc dù điều trị (xử trí nội khoa thất bại) lấy cục máu đông sẽ làm giảm áp lực nội sọ, nhưng hiệu quả phẫu thuật không chắc chắn

e.tình trạng bệnh thay đổi nhanh chóng

f.vị trí đề nghị

– thùy não: mặc dù kết quả khả quan trong một nghiên cứu không ngẫu nhiên thực hiện 1983 cho thấy hậu quả tốt ở các bệnh nhân xuất huyết sâu được điều trị với phẫu thuật sớm, một nghiên cứu ngẫu nhiên gần đây hơn không xác nhận được lợi ích này

– tiểu não

– bao ngoài

– bán cầu không trội

g.bệnh nhân trẻ (đặc biệt tuổi nhỏ hơn hoặc bằng 50): họ đáp ứng điều trị tốt hơn các bệnh nhân lớn tuổi, và  không giống bệnh nhân lớn tuổi bị teo não, đầu họ cũng ít khoảng trống để chịu được hiệu ứng choáng chỗ + phù não

h.can thiệp sớm sau xuất huyết: phẫu thuật sau 24 giờ từ khởi phát triệu chứng hoặc rối loạn thường ít có lợi

Các chỉ định phẫu thuật xuất huyết tiểu não:  các chỉ định điều trị

1.những bệnh nhân có GCS >= 14 và máu tụ < 4cm đường kính: điều trị bảo tồn

2.những bệnh nhân có GCS =< 13 hoặc có máu tụ >= 4cm: phẫu thuật lấy bỏ

3.những bệnh nhân không có phản xạ thân não vàliệt mềm tứ chi: liệu pháp tích cực không được chỉ định

4.đặt ống não thất đối với bệnh nhân có đầu nước và không có bệnh đông máu (chú ý: không dẫn lưu quá mức để tránh thoát vị tiểu não hướng lên. Hầu hết các trường hợp có đầu nước cũng cần lấy bỏ máu đông