Gãy vỡ C1, trật khớp C1-C2

Gãy C1 cấp tính chiếm 3-13% gãy đốt sống cổ. 56% trong số 57 bệnh nhân có gãy C1 đơn thuần.  44% phối hợp gãy C1-2. 9% thêm vào gãy đốt sống không kề nhau.

Gãy đốt sống đội C1

Gãy C1 cấp tính chiếm 3-13% gãy đốt sống cổ. 56% trong số 57 bệnh nhân có gãy C1 đơn thuần.  44% phối hợp gãy C1-2. 9% thêm vào gãy đốt sống không kề nhau.

Gãy C1 Đơn thuần

Phân loại

Type I   : liên quan tới gãy 1 cung (31-45% trong gãy C1)

Type II  : gãy lún nhiều mảnh (burst fracture) 37-51%: gãy Jefferson cổ điển.

Type III : gãy khối ben của C1 (13-37%).

Gãy Jefferson

Được lấy tên Ong Geoffrey Jefferson. Phân loại được mô tả như 4 điểm gãy của vòng cung C1, nhưng  cũng bao gồm gãy 2 hay 3 điểm thuờng gặp hơn, gãy qua cung C1 phần mỏng nhất). Thường do cơ chế dồn trục. 44% thay đổi liên quan C2. Ơ trẻ em, nó là sự khác biệt lớn của gãy C1 do khớp bán động và sự  vươn tới giả của C. Một gãy xương có thể xảy ra qua khớp bán động tách rời. Không ổn định, thường không khiếm khuyết thần kinh nếu gãy đơn thuần (do đường kính tại mức gãy lớn, hơn nữa khuynh hướng mảnh gãy bị đẩy ra ngoài).

gay-jeffeson-c1

Gãy Jeffeson

vo-cung-truoc-kem-gay-khoi-

  Gãy cung trước kèm vỡ khối bên C1

Lâm sàng

Khiếm khuyết thần kinh hiếm. 3 trong 25 bênh nhân gãy Jefferson có tổn thương thần kinh (1 tổn thương hoàn toàn, 2 hội chứng tuỷ trung tâm) trong 1 nghiên cứu.

Đánh giá

Toàn bộ cột sống cổ và phần mỏng trên CT cho thấy rõ từ C1 qua C3 mô tả chi tiết gãy C1 và đánh giá tổn thương C2 phối hợp.

MRI được chọn lự để đánh giá dây chằng ngang.

Đánh giá toàn bộ dây chằng ngang:

1.Có thể suy ra gián tiếp từ:

a/ Sự nhô ra bất thường của khối bên ở tư thế há miệng.

b/ Khoảng cách mấu răng – đội (ADI) >3mm cũng là một dấu hiệu đứt dây chằng ngang.

2.MRI có thể cho hình ảnh trực tiếp của dây chằng.

“Qui tắc Spence”: trên XQ , há miệng mấu răng trước sau, nếu cộng toàn bộ khối bên nhô ra của C1, C2 >7mm thì dây chằng ngang có thể bị đứt. Trường hợp này chiếm 16% trong số 32 bệnh nhân tổn thương C1 đơn thuần.

Điều trị

Gãy đốt sống đội đơn thuần:

– Nếu dây chằng ngang còn nguyên vẹn: chỉ bất động cột sống cổ.

– Nếu dây chằng ngang đứt thì:

a/ chỉ bất động cột sống cổ.

b/ hoặc phẫu thuật kết hợp và làm cứng.

 

Kiểu gãy Lựa chọ điều trị
Cung trước hoặc sau Colla hoặc SOMI
Cung trước hoặc sau:-vững(d/c ngang còn nguyên)-không vững( d/c ngang đứt)  Colla hoặc SOMI, haloHalo, kết hợp và làm vững C1-2 
Gãy khối bên:-Gãy nát-Gãy mấu ngang Colla hoặc SOMI, halo

Colla hoặc SOMI,

Lựa chọn điều trị gãy C1 đơn thuần

Trật khớp trục đội

Tỷ lệ bệnh và tử vong thấp hơn trật khớp chẩm đội.

Có thể có các tổn thương:

1. Xoay: thường gặp ở trẻ em sau khi té cao hay chấn thương nhẹ

2. Phía trước: đáng ngại hơn

BÁN TRẬT KHỚP TRỤC ĐỘI KIỂU XOAY:

Sự biến dạng xoay tại khớp trục đội thường được sữa chữa lại dễ và nhanh hơn. Hiếm khi khớp trục đội bị kẹt lại khi xoay. Thường gặp ở trẻ em. Có thể xảy ra tự phát với viêm khớp dạng thấp, với mấu răng bất thường bẩm sinh, tiếp sau là chấn thương nhẹ (bao gồm: vận động cổ bằng tay, thậm chí xoay cổ khi ngáp), hay với một nhiễm trùng ở đầu hoặc cổ, gồm đường hô hấp trên ( được biết như là hội chứng Grisel: là sự viêm nhiễm do nguyên nhân chấn thương cơ học, hoá học đến các mặt khớp và dây chằng ngang).

Type Mô tả Điều trị hội chứng Grisel
Dây chằng ngang Bề mặt khớp
I Nguyên vẹn Tổn thương 2 bên Nẹp cổ mềm
II Tổn thương Tổn thương 1 bên Philadelphia, SOMI
III Tổn thương Tổn thương 2 bên halo

Bảng 25-16. Phân loại và điều trị bán trật xoay

Trật khớp có thể xảy ra tại khớp chẩm – đội và / hay trục- đội. Tính chất ổn định ít được biết đến. Với một dây chằng ngang còn nguyên vẹn, sự xoay xảy ra mà không có trật khớp về phía trước. Nếu dây chằng ngang không còn tốt như do chấn thương hay viêm nhiễm cũng có khả năng trật ra trước với khả năng tổn thương thần kinh lớn hơn. Trật ra sau cũng có thể xãy ra nhưng hiếm.

Những động mạch cột sống cũng bị ảnh hưởng nếu xoay quá mức, đặc biệt khi kết hợp với trật ra trước.

Dấu hiệu lâm sàng:

Bệnh nhân thường trẻ. Hiếm khi khiếm khuyết thần kinh. Nnhững dấu hiệu bao gồm: đau cổ, nhức đầu, vẹo cổ( đặc trưng….), giảm tần suất cử động cổ, mặt vô cảm. Mặc dù bệnh nhân không cải thiện về tình trạng trật khớp, họ có thể tăng thêm khi xoay đầu ra trước khớp trật với tổn thương tuỷ sống cổ cao tiềm tàng.

Nhồi máu thân não, tiểu não và thậm chí tử vong có thể xảy ra khi thương tổn vòng tuần hoàn qua những động mạch cột sống.

Đánh giá hình ảnh học:

XQ: những dấu hiệu tìm thấy có thể nhầm lẫn. Dấu hiệu tìm thấy trên XQ cột sóng cổ trước sau trong nhiều ca là: C2 nhô ra trước đồng thời C1 nhô không đối xứng. Trong vài trường hợp, khối bên của C1 lộ ra trước lớn hơn và gần đường giữa hơn so với các đốt khác.

Sự bất đối xứng của đường khớp trục đội có thể chỉnh được bằng cách xoay đầu mà với tư thế chụp mấu răng khi há miệng khi đầu ở vị trí giữa cho thấy sự mất đối xứng đó, lúc đó từ từ xoay đầu 10-150 ở mỗi bên.

CT scan: cho thấy đốt sống đội xoay.

MRI: có thể đánh giá khả năng của dây chằng ngang.

Điều trị:

Điều trị hội chứng Grisel: kháng sinh được dùng khi có nguyên nhân gây bệnh, kéo và sau đó bất động khớp trật.

Kéo: trật khớp có thể cải thiện với tình trạng kéo nhẹ nhàng (trẻ em bắt đầu 7-8 lbs và tăng dần 15 lbs sau nhiều ngày, người lớn có thể khởi đầu 15 lbs và tăng dần lên 20lbs). Nếu trật khớp kéo dài > 1 tháng thì kéo rất ít thành công. Hoạt động xoay cổ trái –phải khá thì được khuyến khích kéo.

Nếu cải thiện, bất động sau kéo hay dùng halo được duy trì 3 tháng ( thường 6-12 tuần).

Trật khớp không nắn được và tái phát sau khi bất động thì nên được điều trị bằng phẩu thuật làm cứng khớp sau 2-3 tuần kéo để đạt được sự cải thiện tối đa.Thường kết hợp C1 và C2 nhiều hơn những kiểu gãy khác. Sự kết hợp xương có thể được thực hiện ngay cả nếu khi trật xoay C1-C2 không nắn lại được hoàn toàn.

TRẬT KHỚP TRỤC ĐỘI RA TRƯỚC

1/3 bệnh nhân có khiếm khuyết thần kinh hay tử vong, có thể do:

1.Mấu răng mất chức năng:

– Gãy

– Giảm phát triển mô bẩm sinh quá mức

2.Đứt dây chằng ngang . Nơi bám dây chằng ngang có thể yếu trong bệnh viêm thấp khớp. Đứt dây chằng ngang riêng lẻ do chấn thương thì rất hiếm gặp.

Đánh giá:

CT và MRI  được đề nghị để đánh giá dây chằng ngang.

Điều trị:

Kết hợp đựơc khuyến cáo khi dây chằng ngang bị đứt hay những bán trật không hồi phục. Gãy mấu răng với dây chằng còn nguyên vẹn thì được điều trị như nét đại cương của phần này.