Bệnh não úng thủy (đầu nước) ở người lớn

15:08 13/09/2013 | Lượt xem: 790 | Bình luận: 0

(ngoaithankinh.com) - Người lớn ở độ tuổi trung bình sản xuất khoảng 500ml dịch não tủy hàng ngày. Khi chấn thương hay bệnh tật làm thay đổi lưu thông của dịch não tủy, một hoặc nhiều não thất bị phình to khi dịch não tủy tích tụ. Ở người lớn, hộp sọ rắn và không thể mở rộng, do đó áp suất trong não có thể tăng lên nghiêm trọng. Nếu không được chữa trị, bệnh não úng thủy sẽ tạo ra sự tăng áp lực trong đầu và có thể dẫn đến tổn thương não hoặc tử vong.

Tổng quan

Não úng thủy là tình trạng dịch não tủy (CSF) dư tích tụ trong não thất (khoang chứa chất lỏng) của não. Trong điều kiện bình thường, dịch não tuỷ tuần hoàn trong não, các não thất và cột sống như lớp đệm bảo vệ cho mô não và tủy sống mỏng manh khỏi bị tổn thương và cung cấp một số dưỡng chất.

Người lớn ở độ tuổi trung bình sản xuất khoảng 500ml dịch não tủy hàng ngày. Khi chấn thương hay bệnh tật làm thay đổi lưu thông của dịch não tủy, một hoặc nhiều não thất bị phình to khi dịch não tủy tích tụ. Ở người lớn, hộp sọ rắn và không thể mở rộng, do đó áp suất trong não có thể tăng lên nghiêm trọng. Nếu không được chữa trị, bệnh não úng thủy sẽ tạo ra sự tăng áp lực trong đầu và có thể dẫn đến tổn thương não hoặc tử vong.

Não úng thủy
Hình ảnh não thất bình thường bên trái và não thất rộng ra trong bệnh não úng thủy

Có các loại não úng thủy khác nhau nào?

1. Giao tiếp (không tắc nghẽn)

  • Do sự tắc nghẽn bên ngoài hệ thống não thất hay do vấn đề về hấp thụ
  •  Ví dụ: xuất huyết, nhiễm trùng, chấn thương, các khối u, không rõ nguyên nhân

2. Không giao tiếp (nghẽn)

  • Do sự tắc nghẽn trong hệ thống não thất
  • Ví dụ: xuất huyết hoặc khối u ở bên ngoài các não thất, do bẩm sinh

Não úng thủy có thể là cấp tính (khởi phát nhanh khi có triệu chứng) hoặc mãn tính (triệu chứng khởi phát chậm và khó đoán hơn). Có thể ở trạng thái hoạt động (bệnh nhân có chuyển biến xấu nhanh chóng), bù đắp được (tới mức độ nào đó) hoặc bị kiềm hãm. Trong hầu hết trường hợp, áp lực của dịch não tủy trong não thất là cao. Tuy nhiên trong một số trường hợp (ví dụ như bệnh não úng thủy áp suất bình thường - Normal Pressure Hydrocephalus), áp lực của dịch não tủy có thể bình thường.


Nguyên nhân 

Có nhiều điều kiện có thể dẫn đến bệnh não úng thủy. Nó có thể là do những bất thường di truyền (như các khuyết tật di truyền gây hẹp ống dẫn dịch) hay những rối loạn phát triển (chẳng hạn như những rối loạn liên kết với các khuyết tật về ống thần kinh bao gồm nứt đốt sống).

Các nguyên nhân khác có thể bao gồm các biến chứng do sinh non như xuất huyết trong não thất, các bệnh như viêm màng não, khối u, chấn thương đầu làm nghẽn lối thoát của dịch não tủy từ các não thất đến các bể dịch hoặc làm mất đường dẫn dịch não tủy vào các bể dịch.

Triệu chứng

 

Viêm não úng thủy cấp

  • Buồn ngủ và ảnh hưởng đến nhận thức
  • Nhức đầu
  • Buồn nôn và ói mửa Buồn nôn và ói mửa
  • Đứng không vững

Não úng thủy thứ cấp hay áp lực thấp

  • Như các triệu chứng trên, nhưng chậm khởi phát hơn và khó đoán hơn

Não úng thủy  áp suất bình thường (NPH)

  • Rối loạn tư thế (khó khăn khi đi lại)
  • Chứng mất trí, hay quên
  • Vấn đề về kiểm soát bàng quang Vấn đề về kiểm soát bàng quang

Yếu tố nguy cơ

Não úng thủy có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng thường gặp nhất ở trẻ sơ sinh và người lớn từ 60 trở lên. Nó có cùng ảnh hưởng đến nam và nữ sau khi một chấn thương hay bệnh tật, cũng như những người thuộc các chủng tộc khác nhau.


Khi nào thì nên điều trị

Người lớn, đặc biệt là những người 60 tuổi trở lên, khi đi lại khó khăn không do chấn thương hoặc viêm khớp thì nên đi kiểm tra sức khỏe và thần kinh toàn diện.


Chẩn đoán

Não úng thủy được chẩn đoán như thế nào?

Bằng chất phóng xạ, bệnh não úng thủy thường được phát hiện với não thất bị giãn nở ra hoặc lớn hơn trong CT scan hoặc MRI. Nếu một người có những triệu chứng của bệnh não úng thủy, các xét nghiệm khác có thể được thực hiện bao gồm:

  1. Isotopic cisternography (chụp đồng vị bể dịch)
    Là xét nghiệm liên quan đến việc tiêm một chất đồng vị phóng xạ vào phía lưng dưới thông qua chọc tủy sống. Điều này cho phép sự hấp thu vào dịch não tủy để được theo dõi trong một khoảng thời gian (lên đến 4 ngày).
  2. Chọc dò tủy sống (Lumbar puncture/spinal tap)
    Dưới sự gây tê tại chỗ, một kim nhỏ được đưa vào vùng dịch tủy ở lưng dưới. 50cc của dịch não tủy được rút ra để tạm thời làm giảm các triệu chứng. Xét nghiệm này được sử dụng để đo áp lực dịch não tủy và phân tích chất lỏng. Thủ thuật này có thể giúp xác định liệu phương pháp đặt shunt (ống dẫn) có thích hợp không. Nếu phương pháp chọc thắt lưng giúp cải thiện các triệu chứng dù là tạm thời, điều này có thể là dấu hiệu cho thấy đặt shunt có thể thành công. Tuy nhiên, cũng có bệnh nhân không thấy có cải thiện nhưng khi tiếp tục vẫn thực hiện đặt shunt thành công.
  3. Giám sát áp lực nội sọ 
    Giám sát có thể giúp phát hiện áp lực bất thường hoặc mô hình của sóng áp lực. Giám sát yêu cầu chèn một ống thông hoặc sợi cáp quang nhỏ thông qua hộp sọ vào não.Thủ thuật này đòi hỏi phải nhập viện trong vòng 24 giờ.
    Đôi khi, việc chẩn đoán bệnh não úng thủy có thể khó khăn vì các triệu chứng này cũng liên quan với những căn bệnh như Alzheimer và Parkinson cũng như với quá trình lão hóa bình thường.
  4. não úng thủy
  5. Hình ảnh MRI trong não úng thủy


Lựa chọn điều trị

Não úng thủy được điều trị như thế nào?

Não úng thủy không thể chữa khỏi, nhưng có thể được kiểm soát bằng một số cách. Khu vực có vấn đề có thể được xử lý trực tiếp (bằng cách loại bỏ các nguyên nhân gây tắc nghẽn dịch não tủy, ví dụ như khối u), hoặc gián tiếp (bằng cách chuyển chất dịch sang nơi khác). Đôi khi, nếu áp suất trong não là cao, và / hoặc dịch não tủy bị trộn lẫn với máu (ví dụ như sau khi xuất huyết não), một đường dẫn tạm thời – hệ thống đường thoát ngoại thất (EVD) có thể được chèn vào để làm giảm áp lực gia tăng bên trong não. Ngoài ra khi não được làm sạch máu, một shunt cố định sẽ được chèn vào.

Shunt cố định

Phương pháp điều trị não úng thủy phổ biến nhất là giải phẫu đặt shunt. Shunt là một ống dẻo đặt vào hệ thống não thất giúp chuyển hướng dòng chảy của dịch não tủy sang một vùng khác của cơ thể, nơi nó có thể được hấp thụ. Dịch não tuỷ được vận chuyển qua một ống dưới da; một van trong hệ thống ống giúp điều chỉnh dòng chảy của dịch não tủy.

Sự điều khiển này đạt được thông qua sự khác nhau về áp suất hoặc tốc độ dòng chảy (tức là do quy định-áp suất hoặc quy định-dòng chảy). Đặt shunt não thất-ổ bụng (ventriculoperitoneal-VP) là phương pháp đặt shunt phổ biến nhất trong đó đầu ở xa của shunt được luồn vào trong khoang bụng. Các phương pháp đặt shunt khác bao gồm: đặt shunt não thất-tâm nhĩ (ventriculoatrial -VA) dẫn về tim, đặt shunt não thất-màng phổi (ventriculopleural) dẫn thoát vào niêm mạc phổi và đặt shunt thắt lưng-ổ bụng (lumboperitoneal) giúp dẫn dịch não tủy từ các ống tủy sống vào trong khoang bụng.

Có nhiều phương pháp đặt shunt khác nhau hiện có trên thị trường. Tuy chưa có van nào được chứng minh chắc chắn là vượt trội hơn những van khác, một số bệnh nhân sẽ được hưởng lợi từ các loại van đặc biệt chẳng hạn như các van có thể lập trình (điều chỉnh áp lực có thể thay đổi). Hầu hết các bác sĩ sẽ lựa chọn van được thiết kế và điều chỉnh áp lực đặc biệt dựa trên kinh nghiệm và tình trạng của bệnh nhân. Các van phổ biến nhất được sử dụng, dù vậy, vẫn là các van có áp suất trung bình.

não úng thủy

Cách đặt Shunt dẫn lưu dịch não tủy xuống ổ bụng


Tiên lượng cho bệnh não úng thủy là gì?

Việc tiên lượng sự phát triển của bệnh não úng thủy phụ thuộc vào nguyên nhân, mức độ của các triệu chứng, và yếu tố thời gian của việc chẩn đoán và điều trị. Nhìn chung, não úng thủy càng được chẩn đoán sớm thì càng có nhiều cơ hội điều trị thành công. Các triệu chứng kéo dài càng lâu thì ít có khả năng điều trị sẽ thành công. Một số bệnh nhân cho thấy một sự cải thiện đáng kể khi điều trị trong khi một số khác thì không. Trong một số trường não úng thủy, chứng mất trí nhớ (dementia) có thể được đảo ngược khi thực hiện đặt shunt. Các triệu chứng khác như đau đầu có thể biến mất gần như ngay lập tức nếu các triệu chứng này là do áp lực cao. Sự hồi phục có thể bị hạn chế bởi mức độ tổn thương đã xảy ra bởi sự tràn dịch não và khả năng phục hồi của não.

Các biến chứng và rủi ro liên quan đến việc đặt shunt là gì?

Như bất kỳ ca phẫu thuật nào, rủi ro luôn có thể xảy ra. Biến chứng thường gặp nhất khi đặt shunt là tắc nghẽn hệ thống có thể xảy ra ở bất kỳ điểm nào dọc theo shunt. Một biến chứng thường gặp khác của phẫu thuật đặt shunt là shunt bị lỗi, có thể xảy ra khi một trong hai đầu shunt bị đặt sai vị trí, van không hoạt động đúng hoặc dịch não tủy không được tái hấp thu một cách hiệu quả. Các biến chứng khác bao gồm nhiễm trùng liên quan đến các vết mổ, shunt hoặc dịch não tủy; xuất huyết vào não hoặc não thất; hoặc bị động kinh. May mắn thay, những biến chứng này rất hiếm gặp và có thể được xử lý thành công ở hầu hết các trường hợp, mặc dù điều trị có thể phải làm phẫu thuật bổ sung.

Một số triệu chứng quan trọng cần chú ý:

  • Khó khăn trong việc thức dậy hoặc giữ tỉnh táo
  • Sốt
  • Nhức đầu
  • Khó chịu và / hoặc mệt mỏi
  • Mất khả năng phối hợp hoặc thăng bằng
  • Buồn nôn và / hoặc ói mửa
  • Tính cách thay đổi
  • Thị lực có vấn đề
  • Động kinh
  • Sưng hoặc tấy đỏ dọc theo đường shunt

Nếu có bất kì triệu chứng nào ở trên xảy ra, hãy đi khám ngay lập tức.

Theo dõi

Shunt dự kiến sẽ hoạt động tốt trong một thời gian dài. Tuy nhiên, do não úng thủy là một tình trạng tiếp diễn, bệnh nhân cần được bác sĩ theo dõi chăm sóc dài hạn.

Biện pháp phòng ngừa

Nói chung, các bệnh nhân với một hệ thống shunt cấy ghép không bị ảnh hưởng trong hoạt động hàng ngày của họ, ngoại trừ những hoạt động cần nhiều nỗ lực thể lực. Nếu bạn không chắc chắn, hãy tham khảo với bác sĩ của bạn trước.

NGOAITHANKINH ONLINE

Chia sẻ:

             

  

0 bình luận

Bài viết khác